Back

ⓘ Việt Nam, tên gọi chính thức là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là quốc gia nằm ở cực phía Đông của bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á, giáp với Là ..



                                               

Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam

Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam là tổ chức xã hội nghề nghiệp phi lợi nhuận của những người và tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, kinh doanh và sử dụng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam. Hội có tên giao dịch tiếng Anh là Vietnam Organic Agriculture Association, viết tắt là VOAA. Hiệp hội thành lập ngày 22/5/2012 tại Đại hội lần thứ I của Hiệp hội, và được Bộ Nội vụ phê duyệt thành lập cùng với Điều lệ Hiệp hội hiện hành tại Quyết định số 1303/QĐ-BNV ngày 06 tháng 12 năm 2012. Văn phòng Hiệp hội đặt tại địa chỉ Tầng 9, Cung Tri Thức, Số 1 Tôn Thất ...

Việt Nam
                                     

ⓘ Việt Nam

Việt Nam, tên gọi chính thức là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là quốc gia nằm ở cực phía Đông của bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á, giáp với Lào, Campuchia, Trung Quốc, Biển Đông và vịnh Thái Lan. Quốc gia này có chung đường biên giới trên biển với Thái Lan qua vịnh Thái Lan và với Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Brunei và Malaysia qua Biển Đông.

Việt Nam có diện tích 331.212 km², đường biên giới trên đất liền dài 4.639 km, đường bờ biển trải dài 3.260 km, dân số ước tính vào khoảng 98 triệu người với 54 dân tộc trong đó người Kinh chiếm đa số. Thủ đô của Việt Nam là thành phố Hà Nội, thành phố đông dân cũng như có quy mô GRDP lớn nhất là Thành phố Hồ Chí Minh, còn thường được gọi phổ biến với tên cũ là Sài Gòn. Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa nhưng không kiểm soát trên thực tế và Trường Sa kiểm soát một phần.

Các nghiên cứu và bằng chứng khai quật khảo cổ học cho thấy rằng lãnh thổ Việt Nam đã có xuất hiện con người sinh sống sớm nhất từ thời đại đồ đá cũ. Lịch sử Việt Nam cổ đại bắt đầu với nhà nước Văn Lang và tiếp đó là Âu Lạc, lấy trung tâm là trung du và đồng bằng sông Hồng cùng các vùng ven biển lân cận. Âu Lạc bị nhà Triệu từ phương Bắc thôn tính vào đầu thế kỷ thứ 2 TCN, sau đó, Việt Nam trở thành một bộ phận của các triều đại phong kiến Trung Quốc trong hơn một thiên niên kỷ. Chế độ quân chủ độc lập được tái lập tại đây với vị vua Ngô Quyền – sau khi ông giành chiến thắng quyết định trước quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng vào năm 938 sau CN. Sự kiện này mở đường cho các triều đại tự chủ kế tiếp và trong suốt giai đoạn lịch sử trung đại, quốc gia này không chỉ giành chiến thắng trước các cuộc chiến tranh xâm lược từ phương Bắc mà còn dần được mở rộng về phía nam. Thời kỳ Bắc thuộc cuối cùng bắt đầu kể từ khi nhà Minh Trung Quốc đánh bại nhà Hồ năm 1407 và kết thúc vào năm 1427 sau chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn do vua Lê Lợi lãnh đạo. Sang đến thời kỳ cận đại, nhà Nguyễn – triều đại phong kiến chuyên chế cuối cùng của Việt Nam suy yếu khiến cho quốc gia này bị Đế quốc Pháp đô hộ vào cuối thế kỷ 19, trong giai đoạn này, lãnh thổ Việt Nam bị sáp nhập cùng với Lào và Campuchia – hình thành Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Thời kỳ Pháp thuộc bị gián đoạn và quyền lực của người Pháp bị loại bỏ khi Đế quốc Nhật Bản tiến hành tấn công, xâm lược và chinh phục toàn bộ các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Người Nhật thay thế Pháp thiết lập chính phủ bù nhìn nhưng chỉ kiểm soát được lãnh thổ Đông Dương nói chung cũng như Việt Nam nói riêng trong một khoảng thời gian ngắn. Sau khi Nhật Bản thua trận và đầu hàng Đồng Minh, chủ quyền Đông Dương được Đế quốc Pháp thu hồi. Kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, Việt Nam tiếp tục trải qua nhiều biến động chính trị – ngoại giao với sự kiện can thiệp và giải giáp quân đội Nhật Bản của các lực lượng quân sự thuộc khối Đồng Minh bao gồm Anh, Pháp cùng Trung Hoa Dân Quốc. Nhà nước Việt Nam hiện đại ra đời khi Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập vào năm 1945, sau thành công của Cách mạng Tháng Tám và chiến thắng của Việt Nam chống lại Pháp trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Sau năm 1954, hai miền của quốc gia này bị chia cắt thành hai chính thể với quan điểm chính trị cùng hệ tư tưởng đối lập nhau, lấy ranh giới là vĩ tuyến 17. Xung đột ngày càng gia tăng dẫn tới Chiến tranh Việt Nam, trong đó có sự can thiệp sâu rộng của Hoa Kỳ và các nước đồng minh hỗ trợ cho quân lực cùng chính phủ Việt Nam Cộng hòa và cuối cùng kết thúc với chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vào năm 1975.

Sau khi miền Bắc và miền Nam Việt Nam được tái thống nhất trở thành một nhà nước xã hội chủ nghĩa với một chính phủ đơn nhất vào năm 1976, Việt Nam tiếp tục bị cô lập, gặp khó khăn về kinh tế, chính trị, ngoại giao sau sự sụp đổ và tan rã của Liên Xô cùng Khối phía Đông, các lệnh cấm vận từ phía Hoa Kỳ, những xung đột tại Campuchia, biên giới giáp Trung Quốc và hậu quả của chính sách kinh tế bao cấp sau nhiều năm áp dụng, duy trì. Năm 1986, Đảng Cộng sản khởi xướng một loạt cải cách kinh tế và chính trị, tạo điều kiện cho Việt Nam hình thành kinh tế thị trường, hội nhập sâu rộng với thế giới và nền kinh tế toàn cầu. Các cải cách thành công đưa Việt Nam trở thành quốc gia có tốc độ tăng trưởng GDP cao, liên tục được xếp hạng trong nhóm các nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trên thế giới, được kỳ vọng sẽ trở thành Hổ mới châu Á trong tương lai gần. Tuy nhiên, quốc gia này cũng đang phải đối mặt với những thách thức bao gồm: tham nhũng, tội phạm gia tăng, ô nhiễm môi trường, nghèo đói, phúc lợi xã hội không đầy đủ, và những chỉ trích của phương Tây và giới bất đồng chính kiến về hồ sơ nhân quyền mà họ cho là áp bức tôn giáo, kiểm duyệt truyền thông, hạn chế các nhóm ủng hộ nhân quyền và các quyền tự do dân sự. Tính đến năm 2020, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189 quốc gia và là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế, trong đó nổi bật như: Liên Hiệp Quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương APEC và Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.

                                     

1. Từ nguyên

Các nhà nước trong lịch sử Việt Nam có những quốc hiệu khác nhau như Xích Quỷ, Văn Lang, Đại Việt hay Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chữ "Việt" 越 đặt ở đầu biểu thị đất Việt Thường, cương vực cũ của nước này, từng được dùng trong các quốc hiệu Đại Cồ Việt và Đại Việt là các quốc hiệu từ thế kỷ 10 tới đầu thế kỷ 19. Chữ "Nam" 南 đặt ở cuối thể hiện đây là vùng đất phía nam, là vị trí cương vực, từng được dùng cho quốc hiệu Đại Nam, và trước đó là một cách gọi phân biệt Đại Việt là Nam Quốc như "Nam Quốc Sơn Hà" với Bắc Quốc là Trung Hoa.

Nhà Thanh công nhận Việt Nam chữ Hán: 越南 là quốc hiệu Nhà Nguyễn. Đặt quốc hiệu là "Việt Nam" 越南 không nhầm với nước Nam Việt và thể hiện vị trí địa lý nằm ở phía nam Bách Việt. Năm 1804, vua Thanh cho án sát sứ Quảng Tây Tề Bố Sâm sang tuyên phong Gia Long làm "Việt Nam quốc vương" 越南國王 mặc dù các vua Nhà Nguyễn vẫn theo lệ cũ tự phong "Hoàng đế" 皇帝 cho ngang hàng với vua Trung Quốc.

Vua Gia Long nhà Nguyễn chính thức sử dụng quốc hiệu "Việt Nam" từ năm 1804. Tên gọi này cũng xuất hiện trong tác phẩm Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu năm 1905 và trong tên gọi Việt Nam Quốc dân Đảng. Tên gọi "An Nam" cũng có trong thời Pháp thuộc. Trong Thế chiến thứ 2, Đế quốc Việt Nam ra đời và tiếp tục đặt quốc hiệu "Việt Nam". Sau đó tất cả những nhà nước ở Việt Nam sau năm 1945 đều sử dụng quốc hiệu này.

Trong tiếng Anh hiện nay, các phương tiện thông tin đại chúng của quốc gia khác trên thế giới đặc biệt là các quốc gia có tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức như Anh, Mỹ, Úc đều viết thông dụng là Vietnam cho danh từ viết liền không dấu, là cách viết nối phổ biến cho một từ ghép và Vietnamese cho tính từ, thì tại Việt Nam vẫn còn tồn tại hai cách viết là Viet Nam bỏ dấu và Việt Nam để nguyên, do ảnh hưởng từ viết tiếng Việt dùng chữ Quốc ngữ. Điều này có thể nhận thấy trên website của Chính phủ Việt Nam và Bộ Ngoại giao Việt Nam cho phiên bản tiếng Anh dùng cả 3 cách: Vietnam, Viet Nam hoặc Việt Nam. Danh sách liệt kê thành viên trên website Liên Hiệp Quốc viết tên quốc gia này là Viet Nam trong khi các bài viết tiểu mục thì vẫn viết Vietnam. Trang web Oxford Learners Dictionaries của Nhà xuất bản Đại học Oxford cũng là đơn vị biên soạn Từ điển tiếng Anh Oxford chỉ ghi nhận cách viết Vietnam, và tương tự như vậy thì hầu hết các ngôn ngữ đang dùng chữ viết chính là chữ Latin đều viết tên gọi Việt Nam ở dạng viết liền không dấu cách giống như cách viết Vietnam trong tiếng Anh.

                                     

2. Địa lý

Khoảng cách giữa cực Bắc và cực Nam của Việt Nam theo đường chim bay là 1.650 km. Nơi có chiều ngang hẹp nhất ở Quảng Bình với chưa đầy 50 km. Đường biên giới đất liền dài hơn 4.600 km, trong đó, biên giới với Lào dài nhất gần 2.100 km, tiếp đến là Trung Quốc và Campuchia. Tổng diện tích là 331.212 km² gồm toàn bộ phần đất liền và hải đảo cùng hơn 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm và cả hai quần đảo trên Biển Đông là Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hoà và Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng mà nhà nước tuyên bố chủ quyền.

Địa hình Việt Nam có núi rừng chiếm khoảng 40%, đồi 40% và độ che phủ khoảng 75% diện tích đất nước. Có các dãy núi và cao nguyên như dãy Hoàng Liên Sơn, cao nguyên Sơn La ở phía bắc, dãy Bạch Mã và các cao nguyên theo dãy Trường Sơn ở phía nam. Mạng lưới sông, hồ ở vùng đồng bằng châu thổ hoặc miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Đồng bằng chiếm khoảng 1/4 diện tích, gồm các đồng bằng châu thổ như đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long và các vùng đồng bằng ven biển miền Trung, là vùng tập trung dân cư. Đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam.

Đất chủ yếu là đất ferralit vùng đồi núi ở Tây Nguyên hình thành trên đá bazan và đất phù sa đồng bằng. Ven biển đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long tập trung đất phèn. Rừng ở Việt Nam chủ yếu là rừng rậm nhiệt đới khu vực đồi núi còn vùng đất thấp ven biển có rừng ngập mặn. Đất liền có các mỏ khoáng sản như phốt phát, vàng. Than đá có nhiều nhất ở Quảng Ninh. Sắt ở Thái Nguyên, Hà Tĩnh. Ở biển có các mỏ dầu và khí tự nhiên.

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết có sự biến động. Phía bắc dãy Bạch Mã có 2 mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc lạnh và khô vào mùa đông tạo nên mùa đông lạnh; gió Tây Nam nóng khô và Đông Nam ẩm ướt vào mùa hè. Phía nam có gió Đông Bắc vào mùa khô và gió Tây Nam vào mùa mưa. Các dòng biển phần nào đó điều hòa khí hậu. Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm. Việt Nam trải qua các đợt lụt và bão, có lượng mưa từ 1.200 đến 3.000 mm, số giờ nắng khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm và nhiệt độ từ 5 °C đến 37 °C. Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0.5 độ Celsius trong vòng 50 năm 1964–2014.

                                     

2.1. Địa lý Sinh thái

Việt Nam nằm trong vùng sinh thái Indomalaya. Theo Báo cáo tình trạng môi trường quốc gia năm 2005, Việt Nam nằm trong 25 quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao, xếp thứ 16 trên toàn thế giới về đa dạng sinh học và là nơi sinh sống của khoảng 16% các loài trên thế giới. 15.986 loài thực vật đã thấy trong cả nước, trong đó 10% là loài đặc hữu, Việt Nam có 307 loài giun tròn, 200 loài oligochaeta, 145 loài acarina, 113 loài bọ đuôi bật, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài lưỡng cư, 840 loài chim và 310 loài động vật có vú, trong đó có 100 loài chim và 78 loài động vật có vú là loài đặc hữu. Ngoài ra còn có 1.438 loài tảo nước ngọt, chiếm 9.6% tổng số loài tảo, cũng như 794 loài thủy sinh không xương sống và 2.458 loài cá biển. Cuối những năm 1980, một quần thể Tê giác Java đã bị phát hiện ở Vườn Quốc gia Cát Tiên và có thể cá thể cuối cùng của loài này ở Việt Nam đã chết vào năm 2010.

Ngân hàng gen quốc gia Việt Nam bảo tồn 12.300 giống của 115 loài. Chính phủ Việt Nam đã chi 497 triệu đô la Mỹ để duy trì đa dạng sinh học trong năm 2004 và đã thiết lập 126 khu bảo tồn trong đó có 28 vườn quốc gia. Việt Nam có 2 di sản thiên nhiên thế giới là Vịnh Hạ Long và Vườn quốc gia Phong Nha ‒ Kẻ Bàng cùng 6 khu dự trữ sinh quyển bao gồm Rừng ngập mặn Cần Giờ, Cát Tiên, Cát Bà, Kiên Giang, Đồng bằng sông Hồng và Tây Nghệ An.



                                     

2.2. Địa lý Hành chính

Phân cấp hành chính Việt Nam gồm 3 cấp: cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện và tương đương, cấp xã và tương đương.

Tổng cộng có 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh và tương đương gồm 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương * với thủ đô là Hà Nội.

Dưới cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương là cấp quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh gọi chung là cấp huyện. Tính đến tháng 1 năm 2021, Việt Nam có 705 đơn vị cấp quận/huyện/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh/thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương.

Dưới cấp quận/huyện/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh là các đơn vị hành chính phường, xã, thị trấn gọi chung là cấp xã.

Dưới cấp phường/xã/thị trấn là các khu vực không chính thức với tên gọi khác nhau như khu phố, tổ dân phố, làng, thôn, ấp, khóm, buôn, bản, xóm.

                                     

3. Lịch sử

Các nhà khảo cổ học tìm thấy những dấu vết của người đứng thẳng thời đồ đá cũ trên lãnh thổ Việt Nam cách đây khoảng 500.000 năm; các công cụ thô sơ bằng đá và các dấu răng của người tiền sử bị phát hiện tại các tỉnh Lạng Sơn, Thanh Hóa, Yên Bái, Ninh Bình và Quảng Bình. Ngoài ra, tại các vùng phía Bắc, con người sinh sống trong các hang động đá vôi và sống bằng các hoạt động săn thú, hái lượm. Trong khi đó, tại các vùng duyên hải miền Trung như Nghệ An, con người chủ yếu sống bằng đánh cá.

Đến thời đại đồ đá mới cách đây 5000 đến 6000 năm, người Việt cổ bắt đầu biết canh tác lúa nước; loạt dấu vết trồng lúa có từ cao nguyên tới đồng bằng. Ngoài ra, con người bắt đầu biết chế tác công cụ theo kiểu khác và làm đồ gốm với kỹ thuật khác. Đến khoảng thiên niên kỷ I TCN vào cuối thời kỳ đồ đồng, khu vực lúa nước ở sông Hồng và sông Cả phát triển thành nền văn hóa Đông Sơn rồi cùng thời gian đó, những nhà nước đầu tiên lần lượt xuất hiện đó là Văn Lang và Âu Lạc.

Từ thế kỷ II TCN, các triều đại phong kiến từ phương Bắc cai trị một phần Việt Nam hơn 1000 năm. Sự cai trị này bị ngắt quãng bởi những cuộc khởi nghĩa của những tướng lĩnh như Bà Triệu, Mai Thúc Loan, Hai Bà Trưng hay Lý Bí. Năm 905, Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ, không phải là độc lập vì Dụ tự nhận mình là quan triều đình phương Bắc. Đến năm 938, sau khi chỉ huy trận sông Bạch Đằng đánh bại quân Nam Hán, Ngô Quyền lập triều xưng vương, đánh dấu một nhà nước độc lập khỏi các triều đình phương Bắc vào năm 939.

Sau nhà Ngô, lần lượt các triều Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần tổ chức chính quyền tương tự các triều đại Trung Hoa, lấy Phật giáo làm tôn giáo chính của quốc gia và cho truyền bá cả Nho giáo và Đạo giáo. Nhà Tiền Lê, Lý và Trần đã chống trả các cuộc tấn công của nhà Tống và nhà Mông – Nguyên, đều thắng lợi và bảo vệ được Đại Việt. Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập nhà Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu, tiến hành cải cách. Năm 1407, Đại Ngu bị Nhà Minh thôn tính. một số thành viên hoàng tộc nhà Trần khởi nghĩa, lập nhà Hậu Trần và bị quân Minh đánh bại sau 7 năm. Năm 1427, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, lập nhà Hậu Lê, giành lại độc lập năm 1428. Có quan điểm cho rằng đây là triều đại mà phong kiến Việt Nam đạt "đỉnh cao" đặc biệt là đời vua Lê Thánh Tông 1460–1497.

Vào đầu thế kỷ XVI, Nhà Lê sơ bị Nhà Mạc cướp ngôi nên một bộ phận quan lại trung thành đã lập người khác trong dòng dõi vua Lê lên làm vua, tái lập Nhà Lê. Nhà Lê trung hưng sau 60 năm giao tranh đã chiến thắng, diệt Nhà Mạc. Vua Lê khi đó là bù nhìn, hai tập đoàn phong kiến Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn tranh chấp nhau, gây chiến tranh kéo dài hơn 100 năm, chia cắt Đại Việt thành đàng Ngoài và đàng trong 200 năm. Cuối thế kỷ XVIII, tướng khởi nghĩa Nguyễn Huệ trong 15 năm đã đánh bại cả Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn cùng các cuộc xâm chiếm của Xiêm và Thanh để lập Nhà Tây Sơn. Nguyễn Huệ mất, với người kế vị Cảnh Thịnh, nhà Tây Sơn bị Nguyễn Ánh – một thành viên dòng họ Chúa Nguyễn cùng với viện trợ từ Pháp và Xiêm lật đổ, lập Nhà Nguyễn, triều đại cuối cùng ở Việt Nam. Thời phong kiến, các triều Lý, Trần, Hậu Lê và chúa Nguyễn thu phục Chiêm Thành, Chân Lạp và Tây Nguyên ở phía Nam.

Phương Tây tiếp cận Việt Nam từ thế kỷ XVI. Vào thế kỷ XVII, Đàng Trong và Đàng Ngoài trao đổi thương mại trước hết với Bồ Đào Nha và Hà Lan, sau thêm Anh và Pháp. Các tu sĩ Dòng Tên do Bồ Đào Nha bảo trợ đến truyền bá Công giáo từ năm 1615 rồi Hội Thừa sai Paris và Dòng Đa Minh tiếp nối. Công giáo tại Việt Nam phát triển trong 2 thế kỷ tiên khởi XVII và XVIII. Từ thời Gia Long, Nhà Nguyễn bế quan tỏa cảng, cấm ngoại thương, không tiếp xúc công nghệ tiên tiến. Nửa sau thế kỷ 19, Pháp xâm lược bán đảo Đông Dương, thâu tóm nhà Nguyễn và thành lập Liên bang Đông Dương năm 1887. Thời Pháp thuộc, văn hóa, khoa học, kỹ thuật phương Tây được tăng cường truyền bá.

Thế chiến thứ 2, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, dựng nên Đế quốc Việt Nam, chính thể không thực quyền phải nộp thuế và cung ứng Nhật tài nguyên có lúa gạo, góp phần gây nạn đói Ất Dậu. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Hồ Chí Minh lãnh đạo Việt Minh giành chính quyền, đọc Tuyên ngôn Độc lập thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945. Pháp tính lấy lại Đông Dương, do vấp phải phản kháng của phía ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên đã hậu thuẫn lập Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại, cựu hoàng đế Nhà Nguyễn làm Quốc trưởng.

Chiến tranh Đông Dương kết thúc, Pháp rút, xuất hiện 2 vùng tập kết quân sự chờ cuộc bầu cử thống nhất đất nước nhưng không thành do Hoa Kỳ hậu thuẫn cho Việt Nam Cộng hòa chính phủ kế thừa Quốc gia Việt Nam từ chối tổ chức bầu cử. Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hậu thuẫn các lực lượng miền Nam nổi dậy chống Việt Nam Cộng hòa, gây ra xung đột quân sự mà kéo theo đó là sự tham chiến của Hoa Kỳ. Chiến tranh kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Tổng thống Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng.

Năm 1976, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức tuyển cử hợp nhất. Do chiến tranh biên giới phía Bắc và chiến tranh biên giới Tây Nam, giữ chính sách bao cấp và bị Hoa Kỳ cấm vận, Việt Nam hậu chiến đối mặt các vấn đề kinh tế và xã hội. Năm 1986, Đại hội Đảng lần VI chấp thuận Đổi mới, cải tổ nhà nước và chuyển nền kinh tế theo hướng mới. Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1995 và gia nhập ASEAN vào cùng năm.

                                     

4. Chính trị

Việt Nam theo chế độ xã hội chủ nghĩa với cơ chế có duy nhất một đảng chính trị lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam. Vào năm 2016, các đại biểu là Đảng viên trong Quốc hội có tỉ lệ là 95.8%, những người đứng đầu Chính phủ, các Bộ và Quốc hội cũng như các cơ quan tư pháp đều là Đảng viên và do Ban Chấp hành Trung ương hoặc Bộ Chính trị đề cử.

Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu bởi Tổng Bí thư, là Đảng duy nhất lãnh đạo trên chính trường Việt Nam, cam kết với các nguyên tắc của Lênin "tập trung dân chủ" và không cho phép đa đảng.

Quốc hội nhiệm kỳ 5 năm, đứng đầu là Chủ tịch Quốc hội, theo Hiến pháp là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Duy nhất Quốc hội có quyền lập hiến, lập pháp với nhiệm vụ giám sát, quyết định những chính sách cơ bản, những nguyên tắc của bộ máy Nhà nước và quan hệ xã hội công dân. Quốc hội không độc lập và tuân thủ đa số các quy định từ Đảng nhưng sau Đổi mới, vai trò của Quốc hội đẩy lên cao hơn.

Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia, có các quyền trong đó: Công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh; Tổng Tư lệnh vũ trang; đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm Thủ tướng, Chánh án tối cao, Kiểm sát tưởng tối cao.; thay mặt Nhà nước về đối nội và đối ngoại. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất, gồm Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Việc tổ chức nhân sự chính phủ đều thông qua Bộ Chính trị quản lý.

Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử còn Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan giữ quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp cao nhất Việt Nam. Ngoài ra, Tòa án quân sự có thẩm quyền đặc biệt trong các vấn đề an ninh quốc gia.



                                     

4.1. Chính trị Quân sự

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam bao gồm Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam và Dân quân tự vệ. Quân đội nhân dân Việt Nam VPA là tên chính thức cho tổ chức quân sự hoạt động ở Việt Nam, chia thành:

  • Quân chủng Hải quân: thành lập năm 1955, xây dựng trên cơ sở Cục Phòng thủ Bờ biển.
  • Quân chủng Lục quân: không tổ chức Bộ tư lệnh riêng như Hải quân và Phòng không – Không quân mà các quân đoàn chủ lực và binh chủng do Bộ Tổng tham mưu trực tiếp chỉ đạo.
  • Quân chủng Phòng không – Không quân: hợp nhất từ hai quân chủng Phòng không và Không quân từ năm 2000.

VPA có số lượng khoảng 450.000 người, còn tổng lực lượng, bao gồm cả bán quân sự và dân quân tự vệ, có thể lên khoảng 5.000.000 người. Năm 2010, chi phí đầu tư quân sự ở Việt Nam khoảng 2.48 tỷ USD, tương đương khoảng 2.5% GDP năm 2010.

                                     

4.2. Chính trị Ngoại giao

Theo các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam chủ trương đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm "Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển".

Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc vào năm 1977, sau đổi mới, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1992 và với Hoa Kỳ vào năm 1995, gia nhập khối ASEAN năm 1995. Hiện đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189 quốc gia. Việt Nam cũng là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ. Trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đóng vai trò là ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPA và UPU. Việt Nam từng tổ chức các hội nghị cấp cao ASEAN 1998, 2010, ASEM 2004, Thượng đỉnh APEC 2006, 2017, Cộng đồng Pháp ngữ 1997, Hội nghị Thượng đỉnh Triều Tiên-Hoa Kỳ lần 2 2019. Việt Nam cũng từng làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008-2009 và 2020-2021, thành viên của ECOSOC nhiệm kỳ 2016-2018, Chủ tịch luân phiên ASEAN 2010, 2020.

                                     

5. Kinh tế

Chính sách Đổi mới năm 1986 đã thiết lập mô hình "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Các thành phần kinh tế được mở rộng hơn nhưng những ngành kinh tế chủ lực, thiết yếu vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước. Từ năm 1993 đến 1997, kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm khoảng 9%. Tăng trưởng GDP đạt mức 8.5% vào năm 1997 nhưng giảm xuống 4% năm 1998 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và tăng nhẹ lên mức 4.8% năm 1999. Tăng trưởng GDP tiếp tục tăng lên từ 6% đến 7% trong giai đoạn giữa những năm 2000 và 2002. Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam được phép gia nhập WTO sau khi kết thúc đàm phán song phương với các nước có yêu cầu và chính thức là thành viên thứ 150 vào ngày 11 tháng 1 năm 2007. Sau cải cách kinh tế – xã hội, theo một số nghiên cứu, bất bình đẳng thu nhập đã gia tăng.

Năm 2013, tại một hội thảo ở Hà Nội, các chuyên gia nhận định nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng chậm lại sau 5 năm gia nhập WTO. Cụ thể, trong giai đoạn 2007–2011, chỉ có năm 2008 là Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP trên 8% dù xuất khẩu tăng 2.4 lần - lên mức 96.9 tỷ USD. Đa phần tỷ trọng xuất khẩu là do khối các doanh nghiệp FDI, chiếm khoảng 60%, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nông - lâm sản và khoáng sản thô. Sau hội nhập, tỷ trọng nhập siêu cũng tăng, lên mức 18 tỷ USD vào năm 2008. Đến năm 2013, do ảnh hưởng bởi Đại suy thoái, nền kinh tế đối mặt với áp lực lớn từ nợ xấu, lạm phát cùng nợ công tăng mạnh. Tình trạng tham nhũng luôn xếp ở mức cao trên trung bình của thế giới và đồng thời, các vấn đề liên quan đến vốn, đào tạo lao động, quy hoạch đất đai, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng. cùng hàng chục ngàn thủ tục kinh doanh lỗi thời từ 20 năm trước vẫn còn đang tồn tại.

Theo thống kê năm 2015 của Ngân hàng Thế giới, PPP đầu người của Việt Nam năm 2014 là 5.294.4 USD, bằng 70% so với Philipines, 55.4% so với Indonesia, 37% so với Thái Lan và bằng 6.7% so với Singapore.

Năm 2020, theo công bố của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, quy mô nền kinh tế Việt Nam với 98 triệu dân theo GDP danh nghĩa đạt 340.6 tỷ đô la Mỹ, xếp hạng 37 thế giới, sức mua tương đương đạt 1.047 tỷ đô la Mỹ, xếp hạng 23 toàn cầu, GDP bình quân đầu người theo danh nghĩa là 3.498 USD/người, xếp hạng 115 thế giới, còn theo sức mua là 10.755 USD/người, xếp hạng 106 toàn cầu. Mức độ tự do kinh tế vẫn chỉ ở nhóm trung bình với hạng 90 toàn cầu.

Về địa lý kinh tế, chính phủ Việt Nam phân chia quy hoạch thành các vùng kinh tế – xã hội và các khu vực kinh tế trọng điểm mỗi miền. Các tỉnh có GRDP bình quân đầu người cao nhất: Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bắc Ninh, thủ đô Hà Nội. và GRDP bình quân đầu người thấp nhất: Hà Giang, Lai Châu, Cao Bằng.

                                     

5.1. Kinh tế Giao thông

Các tuyến giao thông nội địa chủ yếu từ đường bộ, đường sắt, đường hàng không đều theo hướng bắc – nam. Hệ thống đường bộ gồm các quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ. Có tổng chiều dài khoảng 222.000 km, phần lớn các tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ đều trải nhựa và bê tông hóa, thiểu số các tuyến đường huyện lộ đang còn là các con đường đất. Hệ thống đường sắt Việt Nam dài tổng 2652 km trong đó tuyến Đường sắt Bắc Nam dài 1726 km.

Các tuyến đường thủy nội địa chủ yếu nằm theo hướng đông – tây dựa theo các con sông như sông Đà, sông Hồng, sông Sài Gòn. Dự kiến quy hoạch tuyến đường bộ ven biển Việt Nam trong tương lai bắt đầu tại cảng Núi Đỏ, Quảng Ninh tới cửa khẩu Hà Tiên, Kiên Giang dài khoảng 3.041 km. Hệ thống đường biển xuất phát từ các cảng biển như Hải Phòng, Quy Nhơn, Sài Gòn.

                                     

5.2. Kinh tế Truyền thông

Truyền thông Việt Nam có bốn loại hình báo chí là báo in, báo nói, báo hình và báo điện tử. Việt Nam hòa mạng internet quốc tế vào năm 1997 và hơn 10 năm nay, hàng loạt báo điện tử, trang tin điện tử đã ra đời. Thống kê đến tháng 7 năm 2010, tại Việt Nam có 706 cơ quan báo chí in, trong đó có 178 báo và 528 tạp chí. Có 65 đài phát thanh – truyền hình, gồm 2 đài phát thanh – truyền hình trung ương VTV, VOV và 63 đài phát thanh – truyền hình ở các địa phương. Có 34 báo điện tử, 180 trang tin điện tử của các cơ quan tạp chí, báo, đài và hàng ngàn trang thông tin điện tử.

Tại Việt Nam, tất cả các cơ quan truyền thông, báo chí hoạt động dưới sự quản lý và giám sát của Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam và dưới sự định hướng của Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Luật pháp chưa cấp phép cho báo chí tư nhân hoạt động.

                                     

5.3. Kinh tế Du lịch

Số lượng khách du lịch đến Việt Nam tăng nhanh nhất trong vòng 10 năm từ 2000–2010. Năm 2013, có gần 7.6 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam và năm 2017, có hơn 10 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, các thị trường lớn nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Đài Loan.

Việt Nam có các điểm du lịch từ Bắc đến Nam, từ miền núi tới đồng bằng, từ các thắng cảnh thiên nhiên tới các di tích văn hóa lịch sử. Các điểm du lịch miền núi như Sa Pa, Bà Nà, Đà Lạt. Các điểm du lịch ở các bãi biển như Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu và các đảo như Cát Bà, Côn Đảo, Lí Sơn.

                                     

5.4. Kinh tế Khoa học

Năm 2010, tổng chi tiêu của Nhà nước vào khoa học và công nghệ chiếm khoảng 0.45% GDP. Theo UNESCO, Việt Nam đã dành 0.19% GDP để nghiên cứu và phát triển khoa học vào năm 2011. Chiến lược tìm cách thúc đẩy hợp tác khoa học quốc tế lớn hơn, với kế hoạch thiết lập mạng lưới các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và khởi xướng một mạng lưới kết nối các tổ chức khoa học quốc gia với các đối tác nước ngoài.

1 bộ chiến lược phát triển quốc gia cho các lĩnh vực trong kinh tế, chủ yếu liên quan đến khoa học công nghệ. Ví dụ là Chiến lược phát triển bền vững 2012 và Chiến lược phát triển ngành cơ khí 2006 cùng với Tầm nhìn 2020 2006. Kêu gọi nhân lực có tay nghề, đầu tư nâng cấp công nghệ khu vực tư nhân. Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ 2011–2020 năm 2012 lập kế hoạch ưu tiên nghiên cứu toán, vật lý; điều tra khí hậu, thiên tai; phát triển hệ điều hành điện tử; công nghệ sinh học áp dụng đặc biệt cho nông, lâm nghiệp, y học và môi trường.



                                     

6.1. Nhân khẩu Dân số

Tổng số dân của Việt Nam vào thời điểm 0h ngày 01/4/2019 là 96.208.984 người, trong đó dân số nam là 47.881.061 người chiếm 49.8% và dân số nữ là 48.327.923 người chiếm 50.2%. Với kết quả này, Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 15 trên thế giới.

Việt Nam có 54 dân tộc trong đó dân tộc Kinh chiếm gần 86%, tập trung ở những miền châu thổ và đồng bằng ven biển. Các dân tộc thiểu số, trừ người Hoa, người Chăm và người Khmer, phần lớn tập trung ở các vùng miền núi và cao nguyên. Trong số này, đông dân nhất là các dân tộc Tày, Thái, Mường. người Ơ Đu có số dân ít nhất. Có các dân tộc mới di cư vào Việt Nam vài trăm năm trở lại đây như người Hoa. Người Hoa và người Ngái là hai dân tộc duy nhất có dân số giảm giai đoạn 1999 – 2009.

Theo điều tra của Tổng cục thống kê thì vùng đông dân nhất Việt Nam là đồng bằng sông Hồng với khoảng 22.5 triệu người, kế tiếp là bắc Trung bộ và duyên hải nam Trung bộ với khoảng 20.1 triệu người, thứ 3 là Đông Nam bộ với 17.8 triệu người, thứ 4 là đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 17.2 triệu người. Vùng ít dân nhất là Tây Nguyên với khoảng 5.8 triệu người. Theo điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ IPS 2019 thì 34.4% dân số Việt Nam đang sinh sống tại thành thị và 65.6% cư trú ở nông thôn. Về tỉ số giới tính trung bình vào năm 2019 là 99.1 nam/100 nữ. Theo nhận xét của tờ The Economist, mức độ giảm dân số do sinh suất tụt giảm tạo ra viễn cảnh lão hóa ở Việt Nam với tỉ lệ người cao niên hơn 60 tuổi dự đoán sẽ tăng từ 12% 2018 lên 21% 2040. Đỉnh dân số lao động của Việt Nam là vào năm 2013, sau đó sẽ giảm. Tỉ lệ trẻ/già bị cho là gây chao đảo về tài chính để cung cấp dịch vụ y tế và cấp dưỡng khi 90% người cao niên không có khoản tiết kiệm nào cả khi ngân sách nhà nước chỉ phụ cấp cho người hơn 80 tuổi với bình quân vài USD/tuần.

                                     

6.2. Nhân khẩu Ngôn ngữ

Ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam là tiếng Việt, một ngôn ngữ thanh điệu thuộc ngữ hệ Nam Á. Hiện tại Hiến pháp không quy định chữ viết quốc gia. Văn ngôn với chữ Hán từng dùng trong các văn bản hành chính trước thế kỷ 20. Chữ Nôm dựa trên chất liệu chữ Hán để ghi tiếng Việt hình thành từ khoảng thế kỷ 7 tới thế kỷ 13. Tác phẩm Truyện Kiều Đoạn trường tân thanh do Nguyễn Du sáng tác viết bằng chữ Nôm. Chữ Quốc ngữ, hệ chữ dùng ký tự Latinh để viết tiếng Việt, được các nhà truyền giáo Dòng Tên như Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes phát triển vào thế kỷ 17 dựa trên các bảng chữ cái của nhóm ngôn ngữ Rôman, sau này được phổ biến thông qua các quy định bảo hộ của chính quyến thuộc địa và các phong trào Việt Nam thời Pháp thuộc. Các nhóm sắc tộc thiểu số ở Việt Nam nói một số ngôn ngữ ví dụ như tiếng Tày, tiếng Nùng, tiếng Mường, tiếng HMông, tiếng Chăm, và tiếng Khmer. Các hệ ngôn ngữ ở Việt Nam bao gồm Nam Á, Kra-Dai, Hán-Tạng, HMông-Miền và Nam Đảo. Một số ngôn ngữ ký hiệu Việt Nam cũng được hình thành tại các thành phố lớn.

Tiếng Pháp là một di sản của chế độ thuộc địa. Việt Nam vẫn là thành viên của Cộng đồng Pháp ngữ, nhưng vị thế của tiếng Pháp đã suy yếu nhanh chóng và nhường chỗ cho tiếng Anh làm ngoại ngữ chính. Với mối quan hệ với các nước phương Tây đã thay đổi và những cải cách trong quản trị về kinh tế và giáo dục, tiếng Anh có thể sử dụng như ngôn ngữ thứ hai và việc học tiếng Anh giờ đây bắt buộc tại hầu hết các trường học bên cạnh hoặc thay thế cho tiếng Pháp. Tiếng Nga, tiếng Đức, tiếng Séc và tiếng Ba Lan thì có thể một số người miền Bắc có quan hệ với Khối Đông Âu trong Chiến tranh Lạnh biết đến. Tiếng Nhật, tiếng Trung và tiếng Hàn cũng thông dụng hơn khi mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia Đông Á được tăng cường.

                                     

6.3. Nhân khẩu Tôn giáo

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo và tín ngưỡng. Đa số người Việt Nam không thuộc tổ chức tôn giáo nào nhưng đồng thời nhiều người trong số họ thực hành tín ngưỡng dân gian. Phật giáo du nhập vào cùng với Nho giáo và Đạo giáo gọi chung là tam giáo có ảnh hưởng tới văn hóa Việt Nam. Phật giáo Việt Nam đa số thuộc Đại thừa và từng có vị thế như quốc giáo thời Nhà Lý và Nhà Trần. Nho giáo đạt vị trí độc tôn dưới thời Lê sơ và Nguyễn sơ. Một số tư tưởng Nho giáo cho tới nay vẫn giữ vai trò nhất định trong trật tự xã hội Việt Nam. Công giáo truyền vào từ thế kỷ 16; nền tảng của Công giáo Việt Nam được thiết lập vững chắc vào thế kỷ 17 bởi các thừa sai Dòng Tên Bồ Đào Nha và Ý. Tin Lành truyền giảng tại Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 bởi Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp. Ấn Độ giáo và sau này Hồi giáo truyền vào Chăm Pa. Bên cạnh các tôn giáo thế giới, Việt Nam còn có một số tôn giáo nội sinh như đạo Cao Đài và đạo Hòa Hảo.

                                     

6.4. Nhân khẩu Tội phạm

Việt Nam có tỷ lệ tội phạm ở mức thấp hơn một số quốc gia phát triển. Năm Cam, Khánh Trắng là một số ví dụ về băng nhóm tội phạm có tổ chức.

Việt Nam là địa điểm có các đầu dây mại dâm, ma túy. Việt Nam chịu ảnh hưởng từ những địa danh buôn bán ma túy như Tam giác vàng và Trăng lưỡi liềm vàng. Theo một số quan chức nhận xét thì các hoạt động buôn bán ma túy càng ngày càng tinh vi và phức tạp. Việt Nam tham gia các hội nghị quốc tế bàn thảo vấn đề trên như "Hội nghị quốc tế phòng, chống ma túy, khu vực nhóm công tác Viễn Đông" do mình chủ trì với sự hợp tác của 19 nước lân cận. Năm 2012, cả nước có ước tính khoảng 170 nghìn người nghiện ma túy. Theo sự phát triển của kinh tế – xã hội, tội phạm có xu hướng tăng. Các vấn đề liên quan đến cá độ trong hoạt động thể thao rơi phần nhiều ở bóng đá. một loại hình tội phạm khác đó là tham nhũng với một số vụ án như PMU 18, Vinashin. Việt Nam hiện vẫn duy trì án tử hình.

                                     

6.5. Nhân khẩu Giáo dục

Tỷ lệ ngân sách nhà nước dành cho giáo dục tăng từ 10.89% năm 2005 lên đến 12.05% năm 2010 và 16.85% năm 2012.

Ở Việt Nam có 5 cấp học: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học và sau đại học. Các trường đại học chủ yếu tập trung ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Theo kết quả đánh giá học sinh quốc tế PISA của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD công bố năm 2013, điểm trung bình môn Khoa học của học sinh Việt Nam ở độ tuổi 15 năm 2012 đứng thứ 8 thế giới. Có ý kiến cho rằng kết quả này không phản ánh đúng chất lượng giáo dục Việt Nam vì các trường phổ thông theo chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho kỳ thi PISA từ trước.

Với bậc đại học, Việt Nam có tổng 376 trường cao đẳng, đại học trên cả nước trong đó Bộ Giáo dục trực tiếp quản lý 54 trường. 3 cơ sở đại học lớn nhất quốc gia gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Năm 1988, Bộ Đại học ra Quyết định cho phép thành lập Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long, trường đại học dân lập đầu tiên tại Việt Nam và đến năm 2017, toàn Việt Nam có 84 trường dân lập, tư thục. Tổng số sinh viên bậc đại học đến năm học 2016–2017 là 1.767.879 người.

                                     

6.6. Nhân khẩu Y tế

Về cơ sở hạ tầng, tính đến năm 2010, toàn Việt Nam có 1.030 bệnh viện, 44 khu điều dưỡng phục hồi chức năng, 622 phòng khám đa khoa khu vực; với khoảng 246.300 giường bệnh. Bên cạnh các cơ sở y tế nhà nước đã bắt đầu hình thành một hệ thống y tế tư nhân bao gồm 19.895 cơ sở hành nghề y, 14.048 cơ sở hành nghề dược, 7.015 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, 5 bệnh viện tư có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần giảm quá tải ở các bệnh viện nhà nước. Mạng lưới y tế cơ sở của Việt Nam đã có 80% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, 100% số xã có trạm y tế trong đó gần 2/3 xã đạt chuẩn quốc gia.

Về nhân lực trong ngành, Việt Nam hiện có hệ thống các trường đại học y, dược phân bổ trên cả nước. Mỗi năm có hàng nghìn bác sĩ và dược sĩ đại học tốt nghiệp ra trường. Ngoài ra còn có hệ thống các trường đào tạo kỹ thuật viên trung học y, dược, nha tại các địa phương. Số lượng cán bộ nhân viên ngành y tế đã có 250.000 người trong đó có 47.000 người có trình độ đại học các loại.

Một số tổ chức quốc tế tài trợ vốn ODA và một số Tổ chức phi chính phủ NGO đã hỗ trợ cho Ngành Y tế của Việt Nam, tính đến năm 2010, Bộ Y tế Việt Nam đang quản lý 62 dự án ODA và trên 100 dự án NGO với tổng kinh phí hơn một tỷ USD, các dự án phân bố ở các vùng miền. Y tế Việt Nam có tham nhũng ở một số cấp độ, có thể tìm thấy trong cả 3 lĩnh vực quản lý nhà nước, dịch vụ tại cơ sở y tế và quản lý bảo hiểm y tế.

Thống kê năm 2016, người Việt có tuổi thọ trung bình 75.6 tuổi, đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á, chỉ sau Singapore

                                     

7. Văn hóa

Việt Nam có nền văn hóa đa dạng: từ vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Thanh–Nghệ với văn hóa làng xã và văn minh lúa nước đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại Tây Bắc và Đông Bắc, đến nền văn hóa Chăm Pa của người Chăm tại Nam Trung Bộ, các bộ tộc Tây Nguyên, cùng vùng đất mới Nam Bộ kết hợp với văn hóa các sắc tộc Hoa, Khmer.

Về khía cạnh truyền thống, văn hóa chủ lưu của người Việt được coi là thuộc vùng văn hóa Đông Á. Với lịch sử hàng nghìn năm, từ văn hóa bản địa thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng của Trung Quốc và Đông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21, Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử.

54 dân tộc có những phong tục, những lễ hội mang ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong ngôn ngữ của văn học, nghệ thuật.

                                     

7.1. Văn hóa Âm nhạc

Âm nhạc truyền thống khác nhau giữa các vùng miền của Việt Nam. Âm nhạc cổ điển ở miền Bắc là hình thức âm nhạc lâu đời nhất Việt Nam. Trong lịch sử, Việt Nam có thể chịu ảnh hưởng bởi truyền thống âm nhạc Trung Quốc, Hàn Quốc, Mông Cổ và Nhật Bản. Nhã nhạc là hình thức ca nhạc cung đình. Ca trù là một loại hình diễn xướng âm nhạc giàu chất liệu thi ca. Chèo, tuồng, cải lương là hình thức sân khấu ca nhạc cổ. Xẩm là một loại nhạc dân gian. Quan họ có ở Bắc Ninh và Bắc Giang. Chầu văn là hình thức ca nhạc hầu đồng. Nhạc dân tộc cải biên là một hình thức của âm nhạc dân gian Việt Nam xuất hiện từ những năm 1950. UNESCO công nhận nhã nhạc Huế, ca trù, quan họ, hát xoan, đờn ca tài tử Nam Bộ, ví giặm Nghệ Tĩnh, bài chòi, cồng chiêng Tây Nguyên, hát then là những di sản văn hóa phi vật thể. Các nhạc cụ truyền thống có thể kể đến đàn bầu, đàn gáo, đàn nguyệt, đàn đá, trống, phách, v.v.

Thế kỷ 20 xuất hiện các thể loại tân nhạc Việt Nam. Thời Chiến tranh Việt Nam, miền Bắc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phổ biến nhạc đỏ, trong khi nhạc vàng phát triển tại miền Nam Việt Nam Cộng hòa. Âm nhạc hiện đại có tên gọi V-pop là thể loại ca nhạc tiếng Việt rất phổ biến trên các phương tiện truyền thông ngày nay, với các ca sĩ như Đàm Vĩnh Hưng, Đông Nhi, Sơn Tùng M-TP, Min, Mỹ Tâm hay các diva như Thanh Lam, Hồng Nhung, Trần Thu Hà và Mỹ Linh.

                                     

7.2. Văn hóa Trang phục

Áo dài của người Kinh là một dạng trang phục ở Việt Nam có thể mặc trong những dịp như đám cưới và lễ hội. Áo dài trắng là đồng phục bắt buộc cho nữ sinh trung học ở một số trường trung học phổ thông tại Việt Nam, ít nhất là phải mặc trong tiết Chào cờ. một số ví dụ khác về trang phục tại Việt Nam bao gồm áo giao lĩnh, áo tứ thân, áo ngũ cốc, yếm, áo bà ba, áo gấm, áo Nhật Bình. Mũ nón bao gồm nón lá và nón quai thao. Các trang phục của người dân tộc thiểu số cũng có thể sử dụng.

                                     

7.3. Văn hóa Ẩm thực

Có sự kết hợp của 5 yếu tố cơ bản: cay, chua, đắng, mặn và ngọt. Nước mắm, nước tương. là một trong những nguyên liệu tạo hương liệu trong món ăn. Nấu ăn của Việt Nam có thể có các nguyên liệu tươi hơn, dùng dầu ít hơn và phụ thuộc hơn vào rau thơm, rau quả. Có thể có một đặc điểm phân biệt ẩm thực Việt Nam với một số nước khác: ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon, đôi khi không đặt mục tiêu hàng đầu là ăn bổ. Bởi vậy trong hệ thống có thể có ít hơn những món cầu kỳ, hầm nhừ ninh kỹ như ẩm thực Trung Hoa, không thiên về bày biện có tính thẩm mỹ như ẩm thực Nhật Bản mà thiên về phối trộn gia vị hoặc sử dụng những nguyên liệu dai, giòn.

                                     

7.4. Văn hóa Thể thao

Việt Nam có đấu vật, võ thuật, đá cầu, cờ tướng. Ở một số khu vực tập trung người dân tộc thiểu số có bắn nỏ, đẩy gậy. Quần vợt thường được chơi nhiều ở khu vực thành thị. một số môn thể thao khác cũng phổ biến không kém, có thể kể đến như: bóng đá, bóng bàn, bóng rổ, bóng chuyền, cầu lông, billiards snooker, cờ vua. Trong đó, bóng đá là môn thể thao được người dân quan tâm nhiều nhất.

Đoàn thể thao Việt Nam bắt đầu tham gia Olympic mùa hè từ năm 1952 cho tới nay và đã có huy chương vàng đầu tiên vào năm 2016 của Hoàng Xuân Vinh trong môn bắn súng. Ở Olympic người khuyết tật, Việt Nam tham gia từ năm 2000 và cũng có huy chương vàng đầu tiên do lực sĩ Lê Văn Công ở môn cử tạ đạt được vào năm 2018.

                                     

8. Liên kết ngoài

  • Việt Nam tại Từ điển bách khoa Việt Nam
  • Thông tin về Việt Nam Lưu trữ 2012-01-11 tại Wayback Machine tại UCB Libraries GovPubs
  • Việt Nam trên DMOZ
  • Tổng cục Thống kê
  • Thông tin về Việt Nam tại BBC
  • Wikimedia Atlas của Vietnam
  • Chiefs of State and Cabinet Members of Foreign Governments: Vietnam, CIA
  • Trang web chính thức
  • Dân số Việt Nam mới nhất tại Danso.org
  • Việt Nam tại Encyclopædia Britannica tiếng Anh
  • Mục" Vietnam” trên trang của CIA World Factbook.
Free and no ads
no need to download or install

Pino - logical board game which is based on tactics and strategy. In general this is a remix of chess, checkers and corners. The game develops imagination, concentration, teaches how to solve tasks, plan their own actions and of course to think logically. It does not matter how much pieces you have, the main thing is how they are placement!

online intellectual game →